Trang

Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2010

Những phong cách chủ đạo trong kiến trúc Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc

Sự hiện diện đầu tiên của kiến trúc Pháp ở Hà Nội là từ năm 1803, khi vua Nguyễn Gia Long cho xây lại thành Hà Nội theo kiểu Vauban dưới sự chỉ đạo của 4 kỹ sư công binh Pháp. Tuy nhiên phải đến khi thành lập khu Nhượng địa năm 1875 ở ven sông Hồng (kéo dài từ phố Phạm Ngũ Lão tới Quân y Viện 108 và bệnh viện Hữu Nghị ngày nay) thì những công trình phong cách kiến trúc Pháp mới thực sự có dấu ấn tại Hà Nội. Trải qua gần một thế kỷ (cuối thế kỷ 19 tới nửa đầu thế kỷ 20), kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc với sự phong phú về phong cách đã để lại cho Hà Nội một di sản kiến trúc quý giá.
Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới những phong cách chủ đạo, để lại những dấu ấn rõ ràng trong kiến trúc thời kỳ này.
1. Phong cách kiến trúc Tiền thực dân

Ảnh 1: Bảo tàng Lịch sử Quân sự (trước đây là Sở chỉ huy quân đội Pháp) 
Phong cách kiến trúc Tiền thực dân ở Hà Nội bắt đầu hình thành từ chính khu Nhượng địa với những ngôi nhà làm việc, nhà ở cho sĩ quan và binh lính Pháp. Với mong muốn có được những không gian phù hợp với chức năng cần thiết nhưng tránh được cái nóng oi ả mùa hè, các sĩ quan công binh Pháp đã nghĩ ra một hình thức kiến trúc nhiệt đới thô sơ với các hành lang rộng bao lấy không gian chính.
Sau khi chiếm được thành Hà Nội và biến nó thành Sở chỉ huy quân đội Pháp, các sĩ quan công binh cũng xây dựng một loạt công trình trong thành nội cũng như trên trục đường nối khu nhượng địa với Hoàng Thành cũ (nay tuyến phố Tràng Tiền - Tràng Thi - Điện Biên Phủ) và khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm theo phong cách Tiền thực dân.
Các công trình kiến trúc phong cách Tiền thực dân thường có mặt bằng hình chữ nhật đơn giản có hành lang rộng chạy xung quanh. Nhà thường có hai tầng, sàn tầng hai dùng dầm đỡ thép hình cuốn gạch ở trên. Mái dốc lợp ngói hoặc tôn. Tường chắn mái xây gạch dùng để trang trí mặt tiền có một vài hình thức tranh trí đơn giản như hàng con tiện hoặc đắp xi măng hình hoa lá. Hành lanh quanh nhà được tạo ra hình thức cuốn vòm hình cung hoặc bán cầu có khoá vòm.
Nhìn chung thì đây là phong cách mag tính công năng duy lý, ít chú trọng về mặt thẩm mỹ nên không có nhiều giá trị về mặt kiến trúc. Tuy vậy chúng cũng là đại diện cho kiến trúc Pháp thuộc thời kỳ sơ khởi nên cũng cần được tôn trọng ở một mức độ nhất định.
Một số công trình tiêu biểu: Bảo tàng Lịch sử Quân sự (ảnh 1), Toà thị chính (chỉ còn toà nhà số 12 Lê Lai), một số nhà điều trị trong khuôn viên Quân y Viện 108 và bệnh viện Hữu Nghị.
Đặc điểm nhận dạng: Nhà 1-3 tầng, mặt bằng hình chữ nhật, mái dốc lợp ngói hoặc tôn, có hành lang bao quanh tạo ra hình thức cuốn vòm liên tục.

2. Phong cách kiến trúc Tân Cổ điển

Ảnh 2: Phủ Chủ tịch (trước đây là Phủ Toàn quyền Đông Dương) 
Sau khi cơ bản chinh phục được toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, người Pháp đã tiến hành một công cuộc xây dựng lớn ở Hà Nội nhằm biến nó thành thủ phủ toàn khu vực Đông Dương. Những công thự lớn tiêu biểu cho chính quyền thực dân như Phủ Toàn quyền, Dinh Thống Sứ, Toà án… được xây dựng. Để biểu đạt cho sự uy nghi của chính quyền mới thì không gì bằng việc sử dụng các hình thức kiến trúc Cổ điển. Sau này, phong cách Tân-Cổ điển còn ảnh hưởng sang các công trình lớn về kinh tế-văn hoá ở Hà Nội như ga Hàng Cỏ, trụ sở Công ty hoả xa Đông Dương-Vân Nam, Nhà hát Thành phố, Viện Radium Đông Dương… và nhiều biệt thự dành cho người Pháp ở Hà Nội. Phong cách kiến trúc Tân-Cổ điển ở Hà Nội thời kỳ này không còn là Tân-Cổ điển Pháp thuần tuý nữa mà mang nhiều màu sắc của chủ nghĩa Triết chung. Mặc dù vẫn sử dụng bố cục đối xứng nghiêm ngặt, các cấu trúc hình học và tỷ lệ vẫn được tuân thủ, các thức cổ điển vẫn mang tính áp đảo, song ở nhiều công trình các chi tiết của kiến trúc Phục hưng, Baroque cũng được sử dụng.
Phong cách kiến trúc Tân-Cổ điển là phong cách kiến trúc áp đảo đối với các công trình công cộng lớn ở Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc và cũng là phong cách mang dấu ấn mạnh mẽ nhất của kiến trúc thời kỳ này. Ảnh hưởng của nó thật đáng buồn, là còn đến tận những công trình kiến trúc công cộng mới xây dựng cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI ở Hà Nội.
Một số công trình tiêu biểu: Phủ Toàn quyền Đông Dương (ảnh 2), Dinh Thống sứ Bắc Kỳ, Phủ Thống sứ (12 Ngô Quyền), Ga Hàng Cỏ, Công ty Hoả xa Đông Dương - Vân Nam (82 Trần Hưng Đạo), Nhà hát lớn, Viện Radium Đông Dương (43 Quán Sứ), khách sạn Metropole (15 Ngô Quyền).
Đặc điểm nhận dạng: Bố cục cân đối, sử dụng nhiều thức cổ điển, mái dốc lợp ngói tây hoặc ngói đá, nhiều hình thức trang trí phong phú sử dụng các thức, chi tiết Cổ điển La Mã, Phục hưng, Baroque.

3. Phong cách kiến trúc địa phương Pháp

Ảnh 3: Trụ sở Bộ Tư pháp (trước đây là Trường nữ học Pháp) 
Từ những năm 1900, một lượng khá lớn người Pháp đã tới Hà Nội làm việc, sinh sống. Họ mang theo những hoài niệm về quê hương thông qua những công trình kiến trúc nơi họ đã sống (chủ yếu là các địa phương miền Bắc nước Pháp và vùng Paris) và do vậy cũng bắt đầu từ thời gian này, một loạt biệt thự, trường học cho người Pháp được xây dựng theo phong cách kiến trúc địa phương Pháp.
Các công trình phong cách địa phương miền Bắc Pháp có mái với độ dốc lớn, các công trình phong cách vùng Paris có độ dốc vừa phải có hệ con sơn gỗ đỡ phần mái nhô ra khỏi tường. Tuy nhiên cũng phải chú ý rằng kiến trúc phong cách địa phương Pháp xây dựng ở Hà Nội không giống hoàn toàn ở chính quốc mà đã mang nhiều tính công năng, thực dụng và dỡ bỏ nhiều những hình thức trang trí nguyên gốc. Những công trình phong cách địa phương Pháp ở Hà Nội nhìn chung mang đậm tính hồi cố, duyên dáng, mang nhiều nét kiến trúc các địa phương miền Bắc nước Pháp và vùng Paris, tuy nhiên đã có những biến đổi nhất định để phù hợp với công năng mới và khí hậu nhiệt đời Việt Nam.
Một số công trình tiêu biểu: Grand Lycée AIber Sarraut (1B Hoàng Văn Thụ), Petit Lycée (8 Hai Bà Trưng), Trường nữ học Pháp (58 Trần Phú, ảnh 3) và một số biệt thự tại khu Ngoại giao đoàn.
Đặc điểm nhận dạng: Nhà 2-3 tầng, mái dốc lợp ngói, có hệ con sơn đỡ mái bằng gỗ mảnh hình tam giác được tiện khắc công phu, hoạ tiết trang trí không nhiều nhưng khá tinh tế.

4. Phong các kiến trúc Art Deco

Ảnh 4: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (trước đây là Chi nhánh ngân hàng Đông Dương) 
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các hoạt động kinh tế trở nên nhộn nhịp hơn, một làn sóng đầu tư của người Pháp, một phần nhỏ của người Hoa và người Việt diễn ra ở Hà Nội. Một loạt trụ sở ngân hàng, công ty và nhiều biệt thự tư nhân được xây dựng. Vì đây là các hoạt động đầu tư tư nhân nên chủ nhân của chúng cũng không cần nhờ tới các kiến trúc sư “cung đình” như A-H. Vildieu nữa. Các kiến trúc sư có đầu óc cách tân hơn được trọng dụng và từ đó một phong cách thiết kế hiện đại, giản dị và thực dụng, phù hợp với xu hướng kiến trúc đang phát triển ở Tây Âu và Bắc Mỹ thời bấy giờ, phong cách Art Deco, được ứng dụng trong thiết kế nhiều công trình ở Hà Nội.
Kiến trúc Art Deco bắt đầu phát triển ở Hà Nội từ những năm 1920 và đặc biệt mạnh mẽ vào những năm 1930. Những công trình xây dựng theo xu hướng này thường sử dụng những hình khối kinh điển trong bố cục không gian, các khối vuông, chữ nhật kết hợp với các khối bán trụ tạo ra một hình thức kiến trúc hiện đại và giản dị. Thêm vào đó là các hoạ tiết trang trí bằng thép uốn hoặc đắp nổi bằng xi măng, thạch cao với đường nét mềm mại làm giảm bớt sự thô nặng của các khối chủ đạo. Đây cũng là hình loại kiến trúc được nghiên cứu và có nhiều sự cải biên nhằm tới sự hài hoà với khí hậu và cảnh quan Hà Nội.
Một số công trình tiêu biểu: Chi nhánh ngân hành Đông Dương (ảnh 4), nhà in IDEO (24 Tràng Tiền), công ty AVIA (39 Trần Hưng Đạo), Bưu điện (6 Đinh Lễ), các toà nhà số 91 Đinh Tiên Hoàng và 31 Tràng Tiền, cùng rất nhiều biệt thự trải từ quận Ba Đình tới cuối các phố Bà Triệu, Hàng Chuối.
Đặc điểm nhận dạng: Hình khối giản dị mang tính hiện đại, đại đa số là mái bằng, sử dụng với liều lượng vừa phải các hoạ tiết trang trí trên mặt đứng.

5. Phong cách kiến trúc Đông Dương

Ảnh 5: Trụ sở Bộ Ngoại giao (trước đây là Sở Tài chính Đông Dương) 
Thập kỷ 1920 ở Hà Nội, sau khi một loạt công trình đại diện cho chính quyền thực dân theo phong cách Tân Cổ điển được xây dựng và đưa vào sử dụng cho thấy chúng hoàn toàn không phù hợp với khí hậu cũng như truyền thống thẩm mỹ và cảnh quan ở đây. Bản thân giới trí thức Pháp ở thuộc địa cũng nhận ra việc áp đặt những giá trị văn hoá từ chính quốc vào một đô thị bản địa có truyền thống văn hoá lâu đời và rất khó chấp nhận. Do vậy việc tìm tòi một phong cách kiến trúc vừa có khả năng đáp ứng công năng hiện đại, vừa phù hợp với khí hậu, cảnh quan và truyền thống văn hoá địa phương được một loạt kiến trúc sư người Pháp và sau đó là người Việt theo đuổi, từ đó tạo ra một phong cách kiến trúc kết hợp sau này được gọi là phong cách kiến trúc Đông Dương.
Kiến trúc theo phong cách Đông Dương là những công trình có cấu trúc mặt bằng, hình khối hoàn toàn theo kiểu Pháp thịnh hành lúc bấy giờ, nhưng đã có sự tìm tòi, biến đổi về mặt không gian và cấu tạo kiến trúc nhằm tạo ra những công trình có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, cảnh quan cũng như truyền thống văn hoá bản địa. Các kiến trúc sư theo phong cách này thường sử dụng những hình thức và chi tiết kiến trúc truyền thống Việt Nam, Khmer trong việc tạo nên các bộ mái, ô văng che cửa, cùng các hoạ tiết trang trí khác. Nhìn chung đây là phong cách thành công nhất trong việc tạo ra những công trình kiến trúc đẹp, hiện đại, phù hợp với khí hậu, cảnh quan và văn hoá truyền thống bản địa thời kỳ Pháp thuộc.
Một số công trình tiêu biểu: Toà nhà chính Đại học Đông Dương (19 Lê Thánh Tông), Sở Tài chính (ảnh 5), Bảo tàng Louis Finot (*) (1 Phạm Ngũ Lão), Viện Pasteur (1 Y-éc-xanh), Nhà thờ Cửa Bắc, Câu lạc bộ thuỷ quân (36 Trần Phú).
Đặc điểm nhận dạng: Bố cục mặt bằng hình khồi đăng đối kiểu Châu Âu kinh điển. Sử dụng nhiều thức cột, mái và các chi tiết kiến trúc cổ truyền Việt Nam và Khmer, hệ thống cửa lấy ánh sáng và thông gió tự nhiên được chú trọng.
6. Phong cách kiến trúc Pháp - Hoa

Ảnh 6: Dinh thự số 26 Phan Bội Châu 
Kiến trúc phong cách Pháp-Hoa có lẽ cũng xuất phát từ ý tưởng muốn xây dựng những công trình đáp ứng được công năng hiện đại nhưng vẫn mang màu sắc kiến trúc Á Đông. Tuy nhiên, khác với các kiến trúc theo phong cách Đông Dương, sử dụng đa phần cách thức kiến trúc, các yếu tố trang trí Việt Nam và Khmer, các tác giả của các công trình Pháp-Hoa lại hầu như sử dụng cách thức và yếu tố trang trí cổ điển Trung Hoa.
Kiến trúc phong cách Pháp-Hoa ở Hà nội thể hiện chủ yếu trong các dinh thự và biệt thự. Các ngôi nhà theo phong cách này thường chỉ có 2 tầng với cách bố trí tổng mặt bằng theo kiểu nhà chính - nhà phụ, đặc biệt ở các dinh thự thường có vườn trước rất lớn có bố trí non bộ. Mái dốc lợp ngói ống, ngói tráng men, bốn góc uốn cong và được trang trí khá cầu kỳ, con sơn đỡ mái dạng trồng đấu nhiếu lớp. Ở một số công trình có hệ thống cột tròn với các tai cột ngang. Phần trang trí được chú trọng nhiều với các yếu tố trang trí kiểu Trung Hoa cổ. Ở các công trình theo phong cách Pháp - Hoa ít thấy những giải pháp lấy ánh sáng hay thông gió tự nhiên phù hợp với khí hậu Hà Nội.
Một số công trình tiêu biểu: Dinh Tổng đốc Hoàng Trọng Phu (46 Hoàng Diệu), dinh thự số 26 Phan Bội Châu (ảnh 6), Nhà hàng Thuỷ Tạ, một số biệt thự trên các phố Phan Đình Phùng, Quán Thánh, và quanh hồ Thuyền Quang.
Đặc điểm nhận dạng: Nhà chính 2 tầng, mái dốc lợp ngói ống hoặc ngói tráng men, trang trí cầu kỳ, sử dụng nhiều  thức và chi tiết kiến trúc cổ điển Trung Hoa.

7. Phong cách kiến trúc Neo-Gothic

Ảnh 7: Nhà thờ Làng Tám 
Phong cách mà chúng tôi gọi là Neo-Gothic với ý nghĩa mong muốn phục hồi Gothic của những người thiết kế gắn liền với quá trình xây dựng các nhà thờ Công giáo ở Hà Nội. Năm 1883, lấy cớ chùa Báo Thiên đã cũ nát và ở trong tình trạng nguy hiểm, Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ đã ra lệnh phá huỷ ngôi chùa, khu đất của nhà chùa được Công sứ M.Bonal nhượng lại cho Hội truyền giáo. Trên khu đất này, giám mục Puginier với tư cách là người thiết kế và chỉ đạo thi công, đã xây dựng nhà thờ Saint Joseph còn gọi là Nhà thờ lớn, hoàn thành năm 1888. Cùng với sự xâm nhập của đạo Thiên Chúa, rất nhiều nhà thờ lớn nhỏ cũng đựơc xây dựng ở các xứ đạo nội, ngoại thành Hà Nội trong thời gian sau đó.
Đặc điểm của kiến trúc nhà thờ ở Hà Nội đa phần là mô phỏng hình thức kiến trúc Gothic Pháp nhưng được giản lược rất nhiều. Đó là cách tổ chức mặt bằng hình chữ thập, mặt đứng ba nhịp, nhịp giữa là lối vào chính, phía trên có cửa sổ “hoa hồng”, hai bên là các lối vào phụ phía trên là tháp chuông. Tuy nhiên, khác với các nhà thờ Gothic Pháp sử dụng rất nhiều yếu tố trang trí, kiến trúc nhà thờ Hà Nội chỉ tổ chức nhiều cửa sổ hình cuốn nhọn kiểu Gothic mà hầu như không thêm vào các yếu tố trang trí nên trông khá khô khan. Trong số các công trình Neo-Go thic ở Hà Nội nổi lên một ngôi nhà thờ nhỏ ở quận Hoàng Mai, nhà thờ Làng Tám, kiến trúc nhà thờ này mang nhiều thần thái Gothic Pháp với một tỷ lệ khá hài hoà trên mặt đứng, kết hợp với nhiều hoạ tiết trang trí theo phong cách Gothic dù còn chưa tinh tế. Nhìn chung thì phong cách Neo - Gothic ở Hà Nội gắn liền với kiến trúc nhà thờ Công giáo, giá trị về mặt thẩm mỹ chưa cao song lại mang nhiều giá trị về mặt lịch sử và cảnh quan.
Một số công trình tiêu biểu: Nhà thờ lớn Hà Nội, nhà thờ Làng Tám (ảnh 7), nhà thờ Hàm Long (Gothic Anh).
Đặc điểm nhận dạng: Mặt đứng ba nhịp với ba cửa vào, phần trung tâm thấp hơn có cửa sổ “hoa hồng”, hai tháp cao ở hai bên. Bố trí nhiều cửa sổ cuốn nhọn kiểu Gothic, kính màu được sử dụng rộng rãi.

Chú thích :
  • (*) Bảo tàng Lonis Finot do KTS Ernest Hébrard thiết kế, mặc dù có đưa vào một số thức và yếu tố kiến trúc Trung Hoa cổ nhưng đa phần vẫn là các thức, chi tiết Việt và Khmer cổ, phong cách chủ đạo vẫn là Phong cách Đông Dương.
  • Ảnh trong bài của Trần Quốc Bảo và Nguyễn Đức Trường

Kiến trúc nhà công cộng phong cách tân cổ điển thời Pháp thuộc ở Hà Nội

Phong cách Tân cổ điển (Néoclassique) là một phong cách kiến trúc rất thịnh hành ở Châu Âu và Bắc Mỹ trong suốt thế kỷ 19, mặc dù mang sắc thái khác nhau ở mỗi nước nhưng nét cơ bản của phong cách này là phục hưng những giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc của kiến trúc cổ điển Hy Lạp, La Mã tới những biến thái của chúng sau này như Phục Hưng, Baroque hay chủ nghĩa Cổ điển Pháp thế kỷ 17-18.
Công trình kiến trúc công cộng theo phong cách Tân cổ điển đầu tiên ở Hà Nội chính là một toà nhà thuộc Bộ chỉ huy quân đội Pháp trong khu thành cổ được hoàn thành năm 1897 do kiến trúc sư A.H. Vildieu thiết kế hiện vẫn còn tồn tại trên phố Lý Nam Đế. Tuy nhiên phải tới đầu thế kỷ 20, khi người Pháp tiến hành công cuộc xây dựng, mở mang Hà Nội nhằm biến nơi đây thành Trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của toàn Liên bang Đông Dương, các công trình công cộng phong cách Tân cổ điển mới được xây dựng rộng rãi. Từ các công trình hành chính như Dinh toàn quyền, Dinh Thống sứ, Toà án đến các công trình thương mại và văn hoá như Sở thuế quan, bưu điện, ga xe lửa, khách sạn, nhà hát...
MỘT SỐ CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU
Dinh toàn quyền (Hôtel du Gouvervement Général) do kiến trúc sư C-G Lichtenfelder thiết kế năm 1900 được xây dựng năm 1902 trên khu đất rất rộng và nhiều cây xanh, án ngữ tuyến phố La République (phố Hoàng Văn Thụ ngày nay) và nhìn ra quảng trường Puginier (nay là quảng trường Ba Đình) được coi là hạt nhân bố cục trung tâm hành chính của Hà Nội lúc bấy giờ.

Công trình gồm 4 tầng: Dưới cùng là tầng hầm dành cho các phòng phục vụ; tầng 1 bố trí phòng khánh tiết, thư viện và các phòng làm việc; tầng 2 có phòng làm việc của Toàn quyền Đông Dương, phòng họp, phòng khách, phòng ăn cùng các phòng làm việc; tầng 3 là nơi sinh hoạt của gia đình viên Toàn quyền.
Mặt bằng công trình hình gần vuông theo kiểu Palladio thời Phục hưng hậu kỳ có lối vào từ 3 phía và mang tính đối xứng nghiêm ngặt. Đây cũng là nét độc đáo của toà nhà vì ở Hà Nội chỉ có duy nhất Dinh Toàn quyền là có dạng mặt bằng này.
Mặt chính công trình cho thấy ảnh hưởng của phong cách kiến trúc Palladio với sự tuân thủ nhịp điệu đặc - rỗng - đặc và các hàng cột thức cổ điển giàu tính trang trí. Toàn bộ công trình được đặt trên một tầng đế chắc đậm với lượng mở cửa rất nhỏ, tường xây tạo chỉ lõm, các bậc thang bằng đá nhấn mạnh tính bề thế. Mặt nhà chia thành 3 phần rõ rệt theo phương ngang. Khu vực trung tâm mang tính rỗng, được trang trí bằng các hàng cột La Mã, tầng 1 dùng thức Doric mạnh mẽ, tầng 2 dùng thức Ionic nhẹ nhàng, giữa hàng cột là các cửa mở rộng và kết thúc theo kiểu cuốn vòm, phần trên khá nhẹ với các ô cửa hình vuông phía dưới một diềm mái được trang trí rất tinh tế. Kết thúc theo phương ngang là hai khối nhô mạnh ra phía trước (avantcorps) mang tính đặc với hai hàng cửa có tương quan diện tích tương đối nhỏ so với mặt tường nhưng được trang trí cầu kỳ, hai phía cửa đều được nhấn bởi các thức cột, tầng dưới thức Doric, tầng trên thức Ionic, kết thúc phía trên bằng hình thức hai Fronton xếp chồng lên nhau theo kiểu Baroque. Các mặt bên và mặt sau tuy không giàu tính trang trí như mặt chính nhưng cũng có các thức cột, các hoạ tiết trang trí đặc trưng phong cách Phục hưng.
Với tư cách trụ sở cơ quan quyền lực cao nhất toàn xứ Đông Dương, với tính chất một công trình long trọng, nguy nga, được xử lý nhuần nhuyễn theo nguyên tắc kiến trúc Phục hưng hậu kỳ, Dinh Toàn quyền xứng đáng là đại diện lớn nhất cho thể loại nhà hành chính theo phong cách Tân cổ điển ở Hà Nội.
Dinh Thống sứ Bắc kỳ (Hôtel de la Résidence Supérieure) nằm trong quần thể kiến trúc trục vườn hoa Paul Bert (Vườn hoa Lý Thái Tổ ngày nay) đặt vuông góc với hồ Hoàn Kiếm bao gồm toà Đốc Lý, Kho bạc, Bưu điện, dinh Thống sứ và chi nhánh ngân hàng Đông Dương. Công trình được kiến trúc sư A. Bussy thiết kế lần đầu năm 1909 theo tinh thần cổ điển Pháp thời Napoléon III, tuy nhiên khi xây dựng năm 1917, ông đã sửa bớt đi những chi tiết quá rườm rà và thêm vào đó một số yếu tố kiến trúc hiện đại thời bấy giờ.

Toà nhà gồm 3 tầng: Tầng hầm chủ yếu là các kho và một số phòng phục vụ; tầng 1 gồm các phòng khách, phòng ăn, phòng làm việc...; tầng 2 có một phòng họp lớn và các phòng nghỉ. Mặt bằng công trình theo hình chữ nhật, các phòng chính được bố trí đối xứng có hành lang bao quanh, phía sau là các phòng phụ. Đảm trách giao thông theo phương đứng là một cầu thang đại hội ngay chính giữa nhà, ngoài ra còn có cầu thang phục vụ cạnh thanh chính và hai cầu thang phụ ở góc phía sau nhà.
Mặt trước công trình hướng ra đại lộ Henri Rivière (phố Ngô Quyền ngày nay) có cấu trúc đối xứng và được chia thành 3 phần theo cả phương ngang lẫn phương đứng. Mảng trung tâm được nhấn mạnh bởi một cửa vào lớn hình cuốn vòm kết hợp với một mái hiên hình cánh hoa bằng kính và kim loại theo phong cách Art Nouveau của Hertor Guimard, phía trên là một cửa sổ lớn và được kết thúc bởi một Fronton dựa trên hai cặp bổ trụ vuông được trang trí bởi hình thức đầu cột Ionic. Đặc biệt khu vực trung tâm còn được nhấn mạnh bởi một khối mái Mansard có phần đỉnh mái được trang trí cầu kỳ. Hai bên là hai phần thân nhà đối xứng, mỗi bên có 5 bước gian gồm 2 hàng cửa sổ, phía dưới là các cửa cuốn vòm, phía trên cửa hình chữ nhật, giữa các cửa là mảng tường được nhấn mạnh phía trên bởi một khung trang trí hình trái xoan (cartouche), một motif trang trí phổ biến thời Phục hưng. Kết thúc phương ngang nhà là các cặp bổ trụ vuông với đầu cột Ionic, cặp trụ này còn được nhắc lại ở hai đầu hồi làm tăng tính vững trãi và uy nghiêm của toà nhà.
Dinh Thống sứ Bắc kỳ cùng khu văn phòng Phủ Thống sứ do A.H.Vildieu thiết kế trước đó tạo thành một quần thể kiến trúc có giá trị rất lớn cả về mặt lịch sử và văn hoá, là một di sản quý của Hà Nội.
Trụ sở Toà án (Palais des Justices) do kiến trúc sư A.H. Vildieu thiết kế năm 1905 được xây dựng trên một khu đất rộng, giới hạn bởi 4 tuyến phố, trong đó có hai đại lộ lớn lúc bấy giờ là Boulevard Carreau (phố Lý Thường Kiệt) và Boulevard Rollandes (phố Hai Bà Trưng), hướng ra một giao lộ lớn được tạo thành bởi Boulevard Carreau, Rue Jean Soler (phố Thợ Nhuộm),Rue Lambert (phố Dã Tượng) và là điểm giới hạn tuyến phố Lamber.

Mặt bằng không gian toà nhà được cấu trúc kiểu đối xứng qua trục trung tâm gồm năm tầng: Tầng hầm cách nhiệt và chống ẩm; tầng 1 bố trí sảnh lớn, các phòng làm việc và một phòng xử án nhỏ; tầng 2 gồm sảnh trung tâm, hai phòng xử án lớn, các phòng nghị án và làm việc; tầng 3 chỉ bố trí một số kho nhỏ; tầng áp mái bố trí các kho lưu trữ tài liệu. Mối liên hệ giữa các tầng được đảm trách bởi một hệ thống cầu thang hoàn chỉnh gồm 2 thang chính dẫn từ sân trước lên sảnh tầng 2, cầu thang trang trọng nối sảnh tầng 1 với sảnh tầng 2, đầu hồi là các thang nối từ tầng 1 lên tầng áp mái.
Hình khối kiến trúc của công trình được thiết kế theo dạnh đối xứng kiểu mặt gương qua trục trung tâm với việc sử dụng tỷ xích lớn tạo ra một khối toà nhà hình chữ H rất đường bệ và trang trọng. Khối trung tâm được thiết kế với bộ mái nhô cao, được đỡ bởi hàng cột theo thức Doric La Mã, kết hợp với hai cầu thang ngoài hình chữ L được trang trí cận trọng tạo ra điểm nhấn làm tăng tính oai vệ của toà nhà. Đây không chỉ là nét độc đáo của công trình so với các toà nhà Tân cổ điển ở Hà Nội mà cũng là nét độc đáo khi so sánh với các toà án theo phong cách Tân cổ điển ở chính nước Pháp. Hai cánh nhà được thiết kế với nhịp điệu nhỏ hơn, giữa các cửa là hàng cột giả theo thức Ionic với dáng vẻ nhẹ nhàng càng làm tôn nổi khối trung tâm. Cuối hai cánh nhà là hai khối hình chắc đậm nhô mạnh ra phía trước tạo ra sự kết thúc khoẻ khoắn theo phương ngang và góp phần làm tăng vẻ hoành tráng cho toà nhà. 
Theo phương đứng thì tầng hầm và tầng một được tổ chức như một khối chắc đặc với lượng mở cửa không lớn, kết hợp với các yếu tố trang trí theo phương ngang tạo thành một bệ đỡ vững chắc cho toà nhà. Tầng hai và tầng ba được phối kết bởi các hàng cột Doric và Ionic với các cửa sổ chạy dọc theo phương đứng tạo không khí tương phản mạnh với khối tầng một. Kết thúc công trình theo phương đứng là một mái Marsard kinh điển với độ cao nổi trội ở khối trung tâm kết hợp với hệ thống cửa mái được trang trí khá cầu kỳ theo hình thức Fronton La Mã.
Với phương cách bố cục hình khối kiến trúc theo tinh thần Tân cổ điển một cách chuẩn mực cùng các hình thức trang trí được cân nhắc kỹ lưỡng, trụ sở Toà án rất xứng đáng với sự khen nhận của các chuyên gia kiến trúc Nhật Bản là “tác phẩm đẹp nhất trong kiến trúc nhà công cộng thời kỳ đầu” (finest work of early public architecture).
Nhà hát thành phố (Théatre municipal) do hai trúc sư Broyer và V.Harlay thiết kế năm 1899, trong quá trình xây dựng có sự tham gia sửa chữa của kiến trúc sư F.Lagisquet. Khởi công năm 1901, vị trí xây dựng nhà hát được coi là đắc địa khi án ngữ tuyến phố Paul Bert (phố Tràng Tiền ngày nay) là tuyến phố sầm uất bậc nhất Hà Nội lúc bấy giờ, đồng thời nhìn ra một quảng trường rộng, nơi hội tụ của 5 phố lớn, mặt chính trông ra Hồ Gươm, mặt sau dựa vào khu Nhượng địa (*).

Mặt bằng nhà hát được chia thàn 3 phần rõ rệt: Chính sảnh tráng lệ ngay lối vào với một cầu thang long trọng hình chữ T bằng đá trắng cùng các hình trang trí trên trần và tường, phía trên sảnh là “phòng gương” ở tầng hai đặc trưng bởi những bức tranh ghép mảnh (mosaïque) đầy màu sắc; phòng khán giả hình móng lừa có sức chứa 870 chỗ trải trên 3 tầng, trong đó có những chỗ ngồi gia đình được bố trí trong các phòng nhỏ (loge); tiếp đến là sân khấu lớn phía sau có các phòng tập, phòng hoá trang, phòng quản trị, phòng họp...
Mặt chính nhà hát nổi bật với hàng cột Ionic tạo thành 5 gian rỗng ở giữa và 2 gian đặc ở đầu hồi phía trên được nhấn thêm bởi 2 mái hình chóp cong lợp ngói đá. Như vậy thì những nguyên tắc kiến trúc Phục hưng dường như được nhấn mạnh ở đây. Tuy nhiên khi đến gần công trình thì những yếu tố Baroque lại nổi bật với những đường cong uốn lượn của các ban công kết hợp với hình thức cuốn vòm phía trên lối vào, đặc biệt là các hình thức trang trí cầu kỳ là kết quả của sự kết hợp giữa các kiến trúc sư và điêu khắc gia. Sang tới mặt bên thì các yếu tố Baroque hầu như lấn át hoàn toàn, các thức cột chỉ còn lặp lại ở bên ngoài chính sảnh, thay vào đó là các cửa sổ hình chữ nhật hay cuốn vòm, những bức tường ngập tràn các hình thức trang trí, các công xon uốn lượn, tất cả đều giàu tính điêu khắc. Phía trên của nhà hát lại đem lại cho chúng ta cảm giác về tinh thần Tân cổ điển Pháp với bộ mái lợp ngói đá đen được tổ chức rất kỳ công với sự kết hợp của nhiều hình thức: mái hình hình chóp cong ở các điểm nhấn, mái cuốn tròn ở khu vực khán phòng và mái tam giác phía trên sân khấu, xung quanh và trên đỉnh các mái đều được nhấn thêm bởi các yếu tố điêu khắc.
Nói đến Nhà hát thành phố chúng ta không thể bỏ qua phần nội thất. Các mảng tường, vòm trần, cầu thang, thậm chí sàn nhà đều được lấp đầy bởi các yếu tố trang trí bằng điêu khắc, bằng hội hoạ. Những bức bích hoạ đầy màu sắc đan xen với những hình đắp nổi bằng thạch cao bên cạnh những hoạ phẩm mosaïque bằng đá màu. Có thể coi không gian nội thất ở đây là những không gian của màu sắc, ánh sáng và âm thanh hoàn hảo.
Sự hoà trộn đầy màu sắc của các phong cách khác nhau ở Nhà hát thành phố đem lại cho chúng ta ấn tượng về một công trình kiến trúc Chiết trung chủ nghĩa với những giá trị không chỉ về mặt kiến trúc mà còn về nghệ thuật trang trí và có thể coi đây là nhà hát đẹp bậc nhất trên toàn lãnh thổ thuộc địa Pháp thời bấy giờ.
Viện Radium Đông Dương (Institut du Radium de l'Indochine) do kiến trúc sư C.Delpech thiết kế được xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1915 đến năm 1920 trên khu đất tiếp giáp với các phố Bornis Desbordes (phố Tràng Thi), Richard (Phố Quán Sứ) và Rollande (phố Hai Bà Trưng) do một tổ chức y tế tư nhân đầu tư. Dù không có được vị trí đắc địa nhưng do mặt nhà mở ra ba tuyến phố nên công trình cũng có được một t ầm nhìn khá rộng.

Toà nhà có mặt bằng hình chữ nhật gồm 3 tầng: Tầng hầm cách nhiệt chống ẩm; tầng 1 là nơi bố trí các phòng khám, các phòng đặt máy quang tuyến dùng để chuẩn đoán và điều trị bệnh ung thư; tầng 2 gồm các phòng Giám đốc, hội trường, thư viện và các phòng hành chính. Các phòng làm việc trên cả hai tầng đều được bố trí theo kiểu hành lang bên, nối giữa các tầng là một cầu thang lớn bố trí ngay chính sảnh.
Kiến trúc toà nhà chịu ảnh hưởng mạnh bởi chủ nghĩa Tân cổ điên Pháp thời Louis XIV với mặt chính được phân chia thành 3 phần theo phương đứng và 5 phần theo phương ngang. Ba phần theo phương đứng gồm tầng hầm và tầng 1 tạo ra phần bệ với hệ thống cửa sổ cuốn vòm trên nền tường chạy liên tục theo phương ngang có các chỉ lõm tạo cảm giác vững chắc, phần giữa là hàng cột kép thức Doric, phần trên là diềm mái gồm có sê nô và tường chắn mái trang trí cầu kỳ. Năm phần theo phương ngang gồm có phần trung tâm được nhấn mạnh bởi các cửa ra vào chính mở rộng, phía trên được che bởi một ban công có các công xon uốn lượn kết hợp hài hoà với các hoạ tiết trang trí trên cửa, tầng 2 là hàng cột Doric cùng các cửa đi có phần cuốn vòm ở phía trên,kết thúc là một Froton hoàn chỉnh có điểm nhấn là một cartouche lớn bao lấy hai chữ IR là tên tắt của Viện. Nổi bật hai phía là hàng cột kép thức Doric, giữa hai cột được trang trí bởi một cartouche, còn giữa các cột là hàng cửa sổ mở rộng tạo cảm giác rỗng. Kết thúc phương ngang nhà là hai mảng đặc với lượng cửa mở nhỏ kết hợp với các bổ trụ được nhấn bởi cái chỉ lõm. Mặt sau có cấu trúc cơ bản giống mặt chính nhưng ở mức độ giản dị hơn, hàng cột kép được thay bằng các bổ trụ vuông với các đường chỉ lõm theo phương ngang.
Với hình thức chuẩn mực, cùng việc tổ hợp thức cột nghiêm ngặt, toà nhà trụ sở Viện Radium Đông Dương xứng đáng là một tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc Tân cổ điển theo tinh thần cổ điển Pháp thời đế chế ở Hà Nội. Rất tiếc là hiện nay công trình đang bị kẹp giữa hai ngôi nhà 4 - 5 tầng, phía trước là nhà để xe lợp mái tôn một cách tạm bợ làm cho việc cảm thụ cái đẹp của toà nhà không còn được nguyên vẹn.

THỐNG KÊ - PHÂN LOẠI

KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
- Trong giai đoạn đầu kiến trúc thực dân (architecture coloniale), đa phần các công trình công cộng lớn ở Hà Nội đều theo phong cách Tân cổ điển, một phong cách mong muốn phục hồi các giá trị kiến trúc Cổ điển cùng những biến thái sau này như Phục Hưng, Baroque hay chủ nghĩa Cổ điển Pháp.
- Với các đặc trưng về bố cục không gian - hình khối và tính chất trang trí mang đậm tinh thần cổ điển, các công trình kiến trúc công cộng phong cách Tân cổ điển xây dựng trước năm 1945 là một bộ phần quan trọng hàng đầu trong di sản kiến trúc Pháp thuộc ở Hà Nội, có giá trị không chỉ về mặt kiến trúc mà còn về mặt lịch sử - văn hoá.
- Do thường  được xây dựng ở những vị trí đắc địa trong thành phố như các quảng trường, án ngữ những tuyến phố lớn nên nhiều công trình kiến trúc công cộng phong cách Tân cổ điển xây dựng trước năm 1945 còn tạo ra các điểm nhấn đô thị, đóng góp tích cực vào bộ mặt kiến trúc và quy hoạch Thủ đô.
- Các công trình này đều có tuổi thọ trên dưới 100 năm nên nhiều công trình đã xuống cấp, bị bao vây bởi các toà nhà nhiều tầng, bị lấn chiếm khuôn viên... nên không còn giữ nguyên giá trị ban đầu. 
- UBND thành phố Hà Nội cần có các nghiên cứu, khảo sát nhằm đưa một số công trình có giá trị vào danh mục Di sản kiến trúc của thành phố và có chính sách bảo tồn, trùng tu và tôn tạo bộ phận di sản kiến trúc này.
  • Chú thích : (*) Khu Nhượng địa (Concession) có diện tích 18,5 ha bên bờ sông Hồng bao gồm khu vực từ Nhà hát lớn và Bảo tàng Lịch sử đến Bệnh viện Hữu Nghị ngày nay.
ThS.KTS Trần Quốc Bảo
Giảng viên chính khoa Kiến trúc và Quy hoạch - Đại học Xây dựng
Nhóm nghiên cứu kiến trúc Hà Nội (GRAH)

Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010

Vào Bình Định thăm Nhà thờ "Lòng Sông"

Êm đềm dưới tàng cây sao xanh gần cửa Phú Hoà đổ ra đầm Thị Nại, là một tu viện có kiến trúc Gothic, trầm mặc, cổ kính, uy nghiêm – như một nốt son nổi bật trên nền xanh của miên man sông nước, ruộng đồng vùng Phước Sơn, Tuy Phước, Bình Định.
Ngược dòng lịch sử, dưới vương triều Vijaya – Chăm Pa từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15, khu vực Thilibinai nay gọi là đầm Thị Nại là một thương cảng lớn nối với thế giới bên ngoài. Các giáo sĩ truyền giáo, trong đó có người Bồ Đào Nha từ thế kỷ 17 đã đặt chân đến vùng đất này.

Sự hài hoà trong kiến trúc xây dựng là nét đẹp nổi bật của nhà thờ Lòng Sông

Cristophoro Borri, giáo sĩ dòng Tên người Ý đã viết trong tác phẩm Xứ đàng trong năm 1621 thuật lại chuyện ông được một viên quan trấn phủ Quy Nhơn đón tiếp nồng hậu, cho phép xây dựng nhà thờ để truyền đạo. Và điểm đầu tiên khi các giáo sĩ cập bến là cảng Nước Mặn vào năm 1618, được quan phủ Quy Nhơn là khám lý Trần Đức Tài cho phép vào giảng đạo.

Sau do dòng chảy bồi đắp, việc đi lại giao thương ở cảng Nước Mặn không thuận tiện nên cơ sở truyền giáo chuyển về Lòng Sông. Khoảng năm 1862, giám mục người Pháp Stephano Cuénot cai quản giáo phận Đàng Trong giao cho linh mục Phaolô Châu coi sóc nhà thờ Lòng Sông.
Từ con đường giao thương thuỷ bắt đầu từ đầm Thị Nại, các tàu buôn ngược dòng sông Côn lên thượng nguồn, đến tận vùng núi Tây Sơn thượng đạo, một phần thuộc Vĩnh Thạnh ngày nay để tiếp tục chuyển hàng hoá lên vùng Tây Nguyên. Các giáo sĩ truyền giáo cũng theo con đường này đi truyền đạo, và nhà thờ Lòng Sông là một di tích còn lại của những giáo sĩ truyền giáo Bồ Đào Nha khi đặt chân lên vùng đất Quy Nhơn, Bình Định.
Kiến trúc cổ của nhà thờ lòng sông lọt thỏm trong tàng sao xanh cổ thụ.

Nhà thờ Lòng Sông, ở thôn Sanh Phương, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, Bình Định, trên đường từ Tuy Phước lên Gò Bồi, rẽ phải vào cầu Đôi, qua ba bờ tràn là đến gò đất giữa đồng, nơi nhà thờ Lòng Sông toạ lạc. Theo một số thông tin, nơi đây trước kia có tên gọi là nhà thờ Làng Sông, vì bao quanh là vùng ruộng đồng, sông nước, nhưng rồi tấm biển đề ở cổng nhà thờ qua thời gian, bị phai mờ nên khi sửa lại theo phát âm của người địa phương, chữ “làng” được chuyển thành “lòng”, và tên gọi đó được giữ cho đến bây giờ.
Nhà thờ Lòng Sông được xây dựng theo lối kiến trúc Gothic – một lối kiến trúc đặc trưng của người châu Âu trong xây dựng nhà thờ và cung điện. Có thể nhận rõ điều này bởi phần chính diện của nhà thờ được trang trí bằng những khung ô đối xứng, các bông gió trang trí, và những hoa văn hoạ tiết, cổng vòm nhọn quen thuộc trong lối xây dựng kiến trúc thánh đường.

Mặt tiền của nhà thờ Lòng Sông thoạt nhìn rất giống với kiến trúc thánh đường Paul cổ kính ở Macao do người Bồ Đào Nha xây dựng. Tuy không hoành tráng và đồ sộ như thánh đường Paul, nhưng nhà thờ Lòng Sông đến nay vẫn giữ gần như nguyên vẹn từng nét kiến trúc ngày xưa để lại.
Cả khu nhà thờ Lòng Sông nằm giữa một gò cao, trồng cây sao xanh cổ thụ. Những phần chính của kiến trúc nhà thờ Lòng Sông gần như còn nguyên vẹn, từng bước cầu thang gỗ, khung cửa được điêu khắc tỉ mỉ, chi tiết rất đẹp mắt.
Sự hài hoà trong kiến trúc xây dựng là nét đẹp nổi bật của nhà thờ Lòng Sông

Phần thánh đường Lòng Sông là kiến trúc xây dựng xưa nhất so với các kiến trúc còn lại trong khu vực nhà thờ, sau đó nhà thờ Lòng Sông được chuyển thành chủng viện Lòng Sông và xây dựng thêm các kiến trúc kế cận để phục vụ cho việc giảng dạy tu sĩ.

Lục tìm tư liệu về thời điểm xây dựng nhà thờ Lòng Sông nhưng hoàn toàn không có, người hiện đang chịu trách nhiệm trông coi khu nhà thờ cũng không có manh mối gì về thời gian xây dựng. Theo một số thông tin thì vào ngày 14.1.1964, chủng viện Lòng Sông đã tổ chức lễ kỷ niệm (bách chu niên) 100 năm thành lập. Nhưng chắc chắn nhà thờ Lòng Sông đã được xây dựng trước đó khá lâu. Tính cho đến nay, kiến trúc chính này đã tồn tại tối thiểu là 165 năm.
Nằm đối xứng với thánh đường, là hai toà nhà xưa kia dành cho các tu sinh, được xây dựng mang đặc trưng kiến trúc kiểu Pháp, tường vôi vàng, trường lang với những hàng cột và cửa vòm ở ban công – nét đặc trưng của lối kiến trúc thuộc địa quen thuộc. Màu xám của tổng thể và màu trắng của một số nét chi tiết ở mặt chính diện thánh đường Lòng Sông kết hợp cùng dãy nhà màu vàng hai tầng đối xứng nhau tạo nên sự hoà hợp trong một không gian rợp bóng cổ thụ và xanh tươi của hoa cỏ.
Chủng viện Lòng Sông ngừng hoạt động từ 1983, nay chỉ còn lại những người trông coi, săn sóc vườn cây, khu kiến trúc cổ, chăm chút những bông hoa, thảm cỏ. Nhờ vậy tổng thể khu kiến trúc cổ này không hề có sự hoang tàn, phế nát, mà trái lại rất gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ, để bất kỳ ai từng có dịp đi về vùng Phước Sơn, ghé qua khu nhà thờ Lòng Sông nằm nổi trội giữa đồng, trên một gò đất cao được bao quanh là hào nước mát rượi, thoả sức mình tận hưởng những vẻ đẹp được lưu giữ của một kiến trúc cổ xưa, tìm vài phút giây thư thái trong không gian tĩnh lặng dưới hàng sao xanh cổ thụ, hẳn cũng là một chuyến đi đáng nhớ.
Kiến trúc gothic trong trang trí chi tiết ở nhà thờ Lòng Sông Dãy nhà ở của chủng sinh vẫn còn nguyên vẹn


Lăng Bác được thiết kế như thế nào?

Sau 3 tuần làm việc trên tinh thần hợp tác và khẩn trương, phương án thiết kế sơ bộ của ta đã được bạn đồng ý. Lăng Bác được thiết kế có độ bền vững cao, đủ khả năng chống được bom đạn và động đất cường độ 7 richter, có công trình bảo vệ đặc biệt để ngăn không cho nước tràn vào nếu Hà Nội bị vỡ đê. Kính quan tài phải chịu được xung lực cơ học lớn.
Ngay sau ngày Hồ Chủ tịch qua đời, việc xây dựng Lăng của Người đã trở thành mong mỏi của toàn Đảng, toàn dân, như một cách bày tỏ ý nguyện tiếp tục đi theo con đường cách mạng của Người. Vì thế, sau lễ tang Bác, "Ban phụ trách qui hoạch A" gồm các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Quốc Hoàn, Phùng Thế Tài… đã nghiên cứu qui hoạch về việc xây dựng Lăng Hồ Chủ tịch.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình. Ảnh:T.H..

Công trình là thể hiện ý Đảng, lòng dân

Trong phiên họp ngày 29/11/1969, Bộ Chính trị quyết định phải thực hiện tốt nhất nhiệm vụ gìn giữ lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và việc xây dựng Lăng của Người phải đảm bảo chống được các biến động của khí hậu, thời tiết, phòng chiến tranh, thể hiện được tính dân tộc mà hiện đại, thuận tiện cho mọi người đến thăm viếng.

Tháng 1/1970, cùng với việc cử Đoàn cán bộ sang Việt Nam bàn về thiết kế Lăng Bác, Chính phủ Liên Xô cũng thông báo sẽ giúp đỡ kỹ thuật trong thiết kế, xây dựng và trang bị cho Lăng.

Bản "Dự thảo nhiệm vụ thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh" do các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đưa ra sau một tuần đã được Bộ Chính trị thông qua, đánh dấu mốc lịch sử đầu tiên của thời kỳ chuẩn bị thiết kế Lăng. Các bạn Liên Xô cũng đã chuẩn bị 5 phương án về bố trí cụm tổng thể của Lăng, cho thấy tinh thần làm việc nghiêm túc, tri thức khoa học và cả tình cảm đặc biệt mà nhân dân Liên Xô dành cho Bác Hồ.

Tin xây dựng Lăng Bác lan truyền trong nhân dân, nên có rất nhiều thư ở cả 2 miền Nam, Bắc và Việt kiều ở nước ngoài gửi về bày tỏ ý kiến đóng góp.

Theo nguyện vọng của nhân dân, Bộ Chính trị quyết định lùi việc duyệt bản thiết kế sơ bộ đã được thông qua, để tổ chức đợt sáng tác mẫu thiết kế Lăng và trưng bày các mẫu đó, lấy ý kiến của nhân dân. Cuộc vận động đã nhận được hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân.

Chỉ từ tháng 5/1970 tới 8/1970, Ban Tổ chức đã nhận được hơn 200 phương án thiết kế và Hội đồng sơ tuyển đã lựa được 24 phương án, đem trưng bày tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La và Nghệ An. Có tới 745.487 lượt người tới thăm và 34.022 người tham gia ý kiến, cho thấy chủ trương vận động quần chúng tham gia thiết kế và đóng góp ý kiến là sáng suốt.

Bên cạnh ý kiến về các phương án trưng bày, còn có những ý kiến về vị trí Lăng: Có người đề nghị Lăng nên nằm trong vườn Phủ Chủ tịch gần nhà sàn, có người muốn Lăng đặt trước Phủ Chủ tịch, có ý kiến muốn Lăng xây gần Tam Đảo, gần Đền Hùng, hoặc ở quê hương Bác…

Kết thúc đợt triển lãm, đoàn cán bộ Việt Nam mang theo bản "thiết kế sơ bộ" đã tổng hợp các ý kiến của nhân dân sang Liên Xô. Sau 3 tuần làm việc trên tinh thần hợp tác và khẩn trương, phương án thiết kế sơ bộ của ta đã được bạn đồng ý.

Lăng được thiết kế có độ bền vững cao, đủ khả năng chống được bom đạn và động đất cường độ 7 richter, có công trình bảo vệ đặc biệt để ngăn không cho nước tràn vào nếu Hà Nội bị vỡ đê. Kính quan tài phải chịu được xung lực cơ học lớn. Thiết kế đưa thêm "buồng đặc biệt" để khi có chiến tranh, vẫn giữ được thi hài tại chỗ.

Do việc thiết kế đã mất 2 năm, nên dự định hoàn thành Lăng vào năm 1971 không thực hiện được. Đảng và Chính phủ Liên Xô đã cử các cán bộ đầu ngành, những chuyên gia xuất sắc sang Việt Nam, như đồng chí I-xa-co-vích Ga-ron - một kiến trúc sư nổi tiếng từng nhận Giải thưởng Quốc gia, phụ trách kiến trúc sư trưởng của đồ án; bộ đội công binh Liên Xô đảm nhiệm công trình bảo vệ đặc biệt và ngành du hành vũ trụ thiết kế và chế tạo thiết bị quan tài …

Ngày 3/11/1971, Ban phụ trách xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được thành lập, do Phó Thủ tướng Đỗ Mười làm Trưởng ban. Ngày 5/2/1972, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phân công nhiệm vụ cho các Bộ, ngành, địa phương tham gia xây dựng Lăng Bác, mà lực lượng nòng cốt là Bộ Kiến trúc và Bộ Quốc phòng.

Nhưng đúng lúc công việc đang tiến hành, thì ngày 16/4/1972, Mỹ đã cho máy bay bắn phá miền Bắc, trọng điểm là Hà Nội và Hải Phòng. Tình thế này buộc Bộ Chính trị quyết định dừng việc xây dựng Lăng, để nhân dân cả nước dồn sức đánh bại kẻ thù.

Nhưng ngay khi Hiệp định Paris được ký kết, việc xây dựng Lăng đã tiếp tục được khởi động. Tối 29/1/1973, chỉ 1 ngày sau khi Hiệp định được công bố, Ban phụ trách xây dựng Lăng đã họp để truyền đạt chỉ thị của đồng chí Trường Chinh, nhắc nhở các lực lượng xây dựng Lăng "Không được phép nghỉ ngơi, không cho phép chậm trễ". Để rồi, 2/9/1973, lễ khởi công xây dựng Lăng Bác, công trình văn hóa và lịch sử của đất nước đã diễn ra trong sự trông đợi của mọi người.

Cụm tre ngà bên Lăng Bác

"Ngôi nhà của Bác" - nơi hội tụ những tấm lòng

Vượt lên hoàn cảnh vô cùng khó khăn sau chiến tranh, các cán bộ chuyên môn của Nhà máy Xi măng Hải Phòng đã tập trung sức lực, trí tuệ để nghiên cứu loại xi măng đặc biệt dùng cho công trình. Hàng vạn mét khối đá dăm được đưa từ mỏ đá Hoàng Thi (Thác Bà, Yên Bái) về Ba Đình.

Hàng trăm xe cát lựa chọn từ Kim Bôi (Hòa Bình), Thanh Xuyên (Thái Nguyên) được đưa về Hà Nội. Nhân dân Nam Bộ, Tây Nguyên và Quảng Nam - Đà Nẵng, Bộ đội Trường Sơn cũng gửi những cây gỗ quí hiếm mấy trăm năm tuổi đóng góp dựng Lăng. Hai vạn miếng đá hoa cương và cẩm thạch mài nhẵn đã đi từ đất nước của Lênin đến Ba Đình, để trang trí cho Lăng Bác.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là một công trình văn hóa, nghệ thuật lớn. Toàn bộ khối Lăng được kết cấu bằng đá của các miền đất nước.

Mặt ngoài Lăng và nền, các bậc thang được ốp đá hoa cương. Chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh" trên nóc Lăng được ghép bằng đá ngọc Cao Bằng. Cửa chính ốp đá đen bóng. Các tường và cột bằng đá cẩm thạch, riêng tường chính tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tươi, làm nền cho dòng chữ "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và chữ ký của Bác đều mạ vàng rực rỡ.

Phòng Bác nằm ốp đá cẩm thạch Hà Tây. Trên tường có 2 lá cờ Đảng và cờ Tổ quốc lớn, được ghép từ 4.000 miếng đá hồng ngọc lấy từ dãy núi trùng điệp của Thanh Hóa, búa liềm và sao năm cánh được ghép bằng đá cẩm vân vàng sáng.

200 bộ cửa trong Lăng được làm từ các loại gỗ do đồng bào và chiến sĩ miền Nam gửi ra, do các thợ mộc giỏi của Nam Hà, Hà Bắc, Nghệ An thi công. Cánh cửa vào phòng thi hài Bác do 2 bố con người thợ nổi danh ở làng Gia Hòa đóng với những kỹ xảo điêu luyện.

Chiếc giường Bác nằm trong Lăng là một công trình kỹ thuật và nghệ thuật đỉnh cao của những người thợ bậc thầy ở 2 nước Việt - Xô. Giường được chế tác bằng đồng, có dải hoa văn bông sen được cách điệu, 3 mặt giường lắp kính có độ an toàn cao. Nóc giường bằng kim loại, có hệ thống chiếu sáng đặc biệt gồm 20 loại đèn nhiều tia có thiết bị điều chỉnh ánh sáng và hệ thống điều hòa tự động. Giường được đặt trên bệ đá, có hệ thống thang máy nâng, hạ tự động…

Có thể nói rằng, đến Lăng Bác, là đến một nơi hội tụ những tấm lòng của nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, đặc biệt là của nhân dân Liên Xô, đã dành cho Danh nhân văn hóa thế giới, Anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh

Những điều chưa biết về Chợ Bến Thành

Trên đường Lê Thánh Tôn của quận 1, liền sau số nhà 291 là số 293, như thể cái công trình kiến trúc rộng hơn 13 ngàn mét vuông nằm giữa hai số nhà trên không hề tồn tại. Vậy mà trong 150 năm qua, ngôi chợ này là biểu tượng sinh lực của thành phố kinh thương lớn nhất nước. Một vị thần gần trăm năm nay vẫn lặng lẽ ngự trong ngôi tháp đồng hồ ba mặt của chợ, độ trì bao thế hệ thương nhân vượt qua những thăng trầm của thế cuộc.
Hết cháy lại dời

Với hơn một thế hệ người Sài Gòn, chợ Bến Thành là anh Bảy Chà và quảng cáo cho kem Hynos, là tiếng rao inh ỏi của khô cá thiều, là bảng báo điện tử diệu kỳ chạy bằng bóng đèn, là cầu vượt ngất ngưởng bên trên công trường Diên Hồng, là mùi khô mắm muối càri dầu thơm vải vóc xanh đỏ tím vàng, là bao sắc màu âm thanh mùi vị trộn lẫn tạo nên trong ký ức một không gian hỗn tạp mà hừng hực nhựa sống của đất Sài Gòn.

Ảnh tư liệu

Chợ đã có trước khi người Pháp đến, nhưng khởi thuỷ nằm bên sông Bến Nghé, ở một bến cận thành Quy (thành Gia Định), nên có tên Bến Thành. Chợ nhóm vào khoảng giữa, tính từ cột cờ Thủ Ngữ đến đầu đường Nguyễn Huệ hiện nay (khi ấy còn là một con kênh).

Sau trận binh lửa của Lê Văn Khôi, thành Quy bị triệt hạ, phố chợ này cũng không còn sầm uất. Năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định. Không lâu sau đó, chợ Bến Thành bốc cháy. Chợ làm bằng vật liệu thô sơ, cột tre mái lá nên đã bị thiêu huỷ hoàn toàn. Một năm sau, Pháp cho xây lại chợ ở quãng giữa đường Nguyễn Huệ ngày nay.

Tháng 7.1870, chợ lại cháy, Toà đô chính Sài Gòn cấp một ngân khoản 70.000 quan để dựng lại chợ bằng sắt. Phố chợ thêm sầm uất vì là nơi trên bến dưới thuyền cho người lục tỉnh tới lui buôn bán. Trong bài Kỷ niệm lịch sử về Sài Gòn in trong tạp chí Excursions et Reconnaissances số 23 tháng 5 – 6 năm 1885, Trương Vĩnh Ký viết: “Cái chợ to nhất mà sự buôn bán nhộn nhịp nhất ở vào quãng từ cột cờ Thủ Ngữ đến tận đường Mac Mahon” (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa).

Tờ báo Lục tỉnh Tân văn thời đó cũng thuê hai căn phố lầu trong khu này để tiện giao dịch với độc giả và phóng viên từ các tỉnh. Năm 1887, con kênh trước chợ bị lấp biến thành đại lộ Charner, khu chợ càng đông đúc với đủ các gian hàng của người Hoa, người Ấn, người Pháp. Chợ càng sầm uất thì càng đáng lo ngại vì đã cũ kỹ, nên đến năm 1911 chính quyền thuộc địa Pháp quyết định dời chợ về vị trí hiện nay, khi ấy còn là một cái ao sình lầy có tên Bồ Rệt (Marais Boresse), gần ga xe lửa đi Mỹ Tho.

Chợ Bến Thành ngày nay


 
Chợ Bến Thành hoạt động liên tục trong 70 năm. Từ ngày 1 tháng 7 đến 15 tháng 8 năm 1985, chợ Bến Thành được cải tạo và sữa chữa lớn.

* Địa chỉ: Cửa Nam (nằm giữa các đường Phan Bội Châu - Phan Chu Trinh - Lê Thánh Tôn - Công trường Quách Thị Trang) - Phường Bến Thành - Quận 1

* Điện thoại: +84.8.8292096

* Diện tích: 13.056 m²

* Ngành hàng kinh doanh chủ yếu: Quần áo, vải sợi, giầy dép, thời trang, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm tươi sống, trái cây, hoa tươi.
Khuôn viên chợ được giới hạn bốn mặt: nam là Place Cuniac (quảng trường Quách Thị Trang ngày nay), mặt bắc là đường d’Espagne, đông là Viénot, tây là Schroeder. Năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đổi tên các con đường này thành Lê Thánh Tôn, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Chợ do nhà thầu Brossard et Maupin (tiền thân của hãng gạch bông Thanh Danh) khởi công từ năm 1912, đến cuối tháng 3.1914 thì hoàn tất, lễ khánh thành chợ diễn ra suốt ba ngày đêm từ 17h ngày 28, kéo dài đến 30.3, với hơn 100.000 người tham dự!

Đến năm 1970, dân số thành phố Sài Gòn đã lên tới 4 triệu, ngôi chợ trung tâm được xây từ đầu thế kỷ 20 coi như lỗi thời, hội đồng thành phố mở cuộc thi vẽ đồ án kiến trúc để xây một ngôi chợ mới thật khang trang. Trong tám đồ án gửi tới dự thi, đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng đoạt giải nhất. Vị kiến trúc sư này đã tận dụng toàn thể diện tích ngôi chợ cũ gồm phần phía trước, cũng như khu bán trái cây phía sau, và xây thành nhiều tầng, có hầm để xe.

Chợ Bến Thành” ở Richmond, Úc. Ảnh:TL ... và ở Little Saigon, Hoa Kỳ. Ảnh:TL

Phía trước nóc chợ vẫn có một ngôi tháp mang dáng cũ nhưng cao đến 50m, phần trên của tháp sẽ là nhà hàng và phòng trà mở cửa ngày đêm. Các tầng lầu càng lên cao càng được nới rộng. Đây là một lề lối kiến trúc táo bạo, cần một kinh phí lên tới trên 2 tỉ đồng tiền Sài Gòn khi ấy, vượt quá mức ngân sách để có thể thành hiện thực.

Mãi đến ngày 1.7.1985, chợ Bến Thành mới được cải tạo và sửa chữa lớn, nhưng giữ nguyên dáng vẻ phía trước cùng với tháp đồng hồ. Chợ sửa xong vào ngày 25.8 cùng năm. Đến năm 1992, chợ được cải tạo hệ thống điện, và thay sạp gỗ bằng sạp sắt. Năm 1999 chợ được sửa hệ thống thoát nước, thay toàn bộ mái ngói bằng tôn. Do phải tận dụng tối đa diện tích sử dụng để có thể chứa gần 1.500 sạp trong một ngôi chợ chỉ được thiết kế 400 sạp, yếu tố mở ngày xưa dần không còn, chợ cũng không giữ được hành lang thông thoáng xung quanh mà thay vào đó là những mái tôn giả ngói, che kính bốn bề. May mắn là chiếc tháp đồng hồ vẫn nguyên dạng, cùng với những phù điêu mang hình ảnh chỉ dẫn cho từng ngành hàng bán ở mỗi cửa chợ – hai gia sản bất khả xâm phạm của chợ Bến Thành.

Từ dạo sửa chợ đến nay, thi thoảng lại rộ lên tin xây mới chợ Bến Thành, hay biến chợ thành trung tâm thương mại. Những năm 1990 có một số phương án đầu tư của các công ty Ý, Thái Lan mà trong đó chợ Bến Thành được xây dựng thành một cao ốc hàng chục tầng. Gần đây nhất là hồi tháng 5.2008, công ty Tư vấn thiết kế giao thông vận tải phía Nam (Tedi South) khi khoan lấy mẫu thăm dò địa chất chuẩn bị xây ga ngầm tuyến metro số 1 của TP.HCM tại hai cổng phía nam và tây chợ Bến Thành, đã làm tiểu thương ăn ngủ không yên. Không chỉ tiểu thương của chợ, cư dân thành phố và cả nước, thậm chí người Việt hải ngoại luôn tập trung nỗi lo của họ vào ngọn tháp đồng hồ đã trở thành hình ảnh biểu trưng của Sài Gòn, bởi mỗi chiếc đồng hồ ở đó từng đo những thời khắc lịch sử của thành phố phương Nam này.

Nhiều người Việt tha phương đã xây lên những ngôi tháp đồng hồ tương tự của chợ Bến Thành ở những thành phố lạnh lẽo mà họ lạc bước tới, hòng tìm thấy chút hơi ấm của quê nhà. Ước mơ của họ, đôi khi chỉ là được một lần trở về để rảo bước cho trọn 136m đường từ cửa nam ra cửa bắc, 96m từ cửa đông sang cửa tây của chợ Bến Thành, được thả hết ngũ quan va đập xô bồ với những gì chỉ có ở đất Việt...

Họ đâu biết rằng sẽ có lúc con cháu mình trở lại ngôi chợ này với cuốn guidebook “Hành tinh cô đơn” trên tay, hay lớ ngớ trong một đoàn du lịch được hướng dẫn bằng một thứ tiếng không phải là tiếng Việt.

Phố có nhiều cổng làng nhất Hà Nội

Tập trung những công trình cổ kính với mật độ cao, Phố Thụy Khuê mang một nét đẹp rất riêng mà không con phố nào khác ở Hà Nội có được.
Phố Thụy khuê là một con phố dài chạy song song với bờ phía Nam của hồ Tây, thuộc địa phận quận Tây Hồ – Hà Nội. Mạn phía Tây của phố Thụy Khuê, nơi tiếp giáp với đường Bưởi, là nơi tập trung với mật độ cao những công trình mang dáng vẻ cổ kính.

Đó là khoảng một chục cánh cổng làng mang đậm dấu ấn thời gian với đôi câu đối chữ Nho chào đón khách ở hai bên. Đó là những mái đình, mái đền rêu phong cũ kỹ…

Những công trình này là di sản của những ngôi làng đã tồn tại từ nhiều thế kỷ bên bờ Nam hồ Tây vốn được biết đến với tên gọi chung là Kẻ bưởi. Nằm liền kề nhau dọc theo trục phố Thụy Khuê ngày nay, theo thứ tự đó là những làng Yên Thái, An Tho, Đông Xã, Hồ khẩu và Thụy Khuê.

Điều này tạo cho phố Thụy Khuê một không gian làng xã ấm cúng, một nét đẹp rất riêng mà không con phố nào khác ở Hà Nội có được. Có thể nói hồn phố Thụy Khuê chính là cái hơi thở làng xã truyền thống phả vào lòng người ngay giữa lòng thủ đô hiện đại đang thay đổi từng ngày…

Dưới đây là một số hình ảnh ghi nhận về con phố hiếm hoi, kỳ lạ giữa lòng Hà Nội này:

Cổng làng Yên Thái, số 562 Thụy Khuê. Đây là nơi được vua Tự Đức đặt 4 chữ vàng “Mỹ tục khả phong” vào năm 1867. Làng Yên Thái vốn nổi tiếng với nghề làm giấy dó, đã đi vào lòng người qua câu ca dao:
“Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Võ canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa nghìn sương.
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây hồ”

Mặt chính diện của cổng làng Yên Thái.

Cách cổng làng Yên Thái không xa là cổng Hậu của làng An Thọ

 Cổng Hậu nhìn từ bên trong

Một khung cảnh mang màu sắc hoài cổ ở ngách 530 Thụy Khuê

Tòa nhà Ủy ban nhân dân phường Bưởi, số 528 Thụy Khuê

Cổng xanh, một cổng Khác của Làng An Thọ, số 514 Thụy Khuê

Cổng làng Đông Xã, số 444 Thụy khuê
Mặt trước của đình Đông Xã. Ngôi đình này đang trong qua trình trùng tu và tôn tạo

Gần đó là đền Đồng Cổ, cũng đang được trùng tu

Cổng Giếng dẫn vào làng Hồ Khẩu, số 378 Thụy Khuê
Cổng chính của làng Hồ Khẩu, đã được trùng tu năm 1998 nhưng hiện giờ đang có những biểu hiện xuống cấp
Hai con nghê đá trước cổng làng Hồ Khẩu

Cụ Quỳnh, người đã sống 40 năm trong căn nhà số 374 Thụy Khuê, cạnh cổng làng Hồ Khẩu. Theo cụ, những nét đẹp của phố Thụy Khuê đang mất dần theo sự phát triển nhanh chóng của thủ đô
Cổng Chùa, một cổng phụ của làng Hồ Khẩu, số 370 Thụy Khuê

Trên phố Thụy Khuê còn có đền thờ Vệ Quốc đại vương thời Lý, được lập từ năm 1128. Đền thờ hai anh em Cống Lễ và Cá Lễ, hai nhân vật truyền thuyết thời Lý có công dẹp giặc giữ nước

Đền Voi Phục thuộc địa phận làng Thụy Khuê cũ, nơi thờ Uy Linh Lang Đại Vương, một vị hoàng tử thời Lý đã có công lớn trong cuộc chiến chống quân Tống xâm lược năm 1077

Kỹ thuật lợp ngói mầu

Với những đặc điểm chung: màu sắc phong phú đa dạng, cách nhiệt, tránh mưa nắng tốt, nhẹ, chống rêu mốc... Ngói màu đang được ưa chuộng và sử dụng phổ biến để làm mái, tăng thêm nét duyên cho ngôi nhà.
Những ngôi nhà trở nên duyên dáng hơn và bắt mắt hơn với mầu sắc sang trọng và những kiểu dáng độc đáo. Không những thế, những tính năng vượt trội so với những vật liệu lợp khác: nhẹ hơn tới 20%, cường độ uốn cao hơn 3 lần, độ hút nước thấp hơn 10 lần, không rêu mốc, khả năng chống nóng - chống thấm - chống ồn cao, nhưng chi phí rẻ hơn 20% ngói mầu đã là lựa chọn của rất nhiều người.

Đêr có một mái nhà đẹp đảm bảo các yếu tố thẩm mỹ, kỹ thuật - LANDTODAY xin giới thiệu tới bạn đọc các bước lắp đặt và xử lý kỹ thuật khi sử dụng mái ngói mầu.
1. Hướng dẫn lăp đặt Vì kèo, Cầu phong

- Việc lắp đặt vì kèo và cầu phong như hình 1, tuy vậy cần lưu ý:
- Mái có kết cấu bằng gỗ hoặc sắt thì độ dốc của mái nên lớn hơn 35 độ.
- Mái có kết cấu bằng bê tông thì độ dốc của mái có thể nhỏ hơn 35 độ
2. Cách chia li tô để định vị ngói
- Đối với mái có kết cấu bằng gỗ hoặc sắt thì tuỳ theo độ dốc mái mà khoảng cách giữa các thanh li tô chia đều trong khoảng 290 - 330mm (đối với ngói sóng nhỏ và sóng lớn) và 270 – 275mm (đối với ngói giả đá).

- Đối với mái bê tông khoảng cách này có thể lớn hơn nhưng không quá vượt 360 mm (đối với ngói sóng nhỏ và sóng lớn ) và không vượt quá 300 mm (đối với ngói giả đá)
- Khoảng cách li tô được chia đều từ đỉnh mái xuống, hàng thừa thì dồn vào hàng cuối cùng hoặc áp cuối.
3. Cách lợp ngói chính:
- Lợp một hàng dưới trước, lợp từ trái qua phải đối với ngói sóng nhỏ, ngói giả đá hoặc từ phải qua trái đối với ngói sóng lớn và từ dưới lên trên.
- Viên ngói đầu tiên lợp cách riềm hông 30mm (đối với ngói sóng nhỏ và sóng lớn) và sát mép hông (đối với ngói giả đá)

- Lấy vuông góc 2 chiều của riềm hông và hàng ngói đầu tiên.
- Mỗi viên ngói được liên kết chắc chắn với thanh litô bằng vít thép. Với ngói sóng nhỏ vít thép l = 40mm và chỉ nên dùng 1 vít bên trái. Với ngói sóng lớn và ngói giả đá vít thép l = 60mm (riêng ngói giả đá mỗi viên ngói nên dùng đủ 2 vít).
4. Phương pháp lắp đặt ngói bò cạnh, ngói bò nóc

- Gắn ngói bò nóc bằng vữa dẻo khô, rải đều vữa vào vị trí chân viên ngói, khi vữa đã đủ độ cứng lấy bay thép cắt bỏ phần vữa thừa và làm nhẵn.
- Đối với ngói bò cạnh khi lắp phải áp sát vào tấm riềm trang trí bên hông.
5. Phương pháp vệ sinh và hoàn thiện cho mái ngói

- Khi thấy vữa dính lên mặt ngói khô trắng, dùng xốp lau sạch.
- Dùng sơn Acrylic chuyên dụng cho ngói màu Secoin để sơn lớp vữa cho đồng màu